Dược phẩm Đông Nam Á,thị trường triển vọng trong tương lai.


Những thị trường dược phẩm đang sáp nhập của khu vực Đông Nam Á đang phát triển với tốc độ khác biệt đáng kể. Bất chấp tác động xấu từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, 8 thị trường của khu vực vẫn đạt  được trị giá 23.1 tỷ USD trong năm 2009, và được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng, ghi nhận từ một báo cáo Tình Báo Kinh Tế Espicom.



Hàn Quốc và Đài Loan đang trưởng thành với những tiêu chuẩn sở hữu trí tuệ hoàn thiện hơn và tầm quan trọng tăng dần trong nền thương mại dược phẩm. Chẳng hạn như, tháng 1 năm 2009, Cơ Quan Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ (USTR) đã loại Đài Loan ra khỏi danh sách 301 nước cần theo dõi đặc biệt, khẳng định bước tiến của đất nước trong việc bảo vệ và thúc đẩy có hiệu lực quyền Sở hữu trí tuệ. Đó là một thay đổi đáng kể so với năm 2001, khi mà USTR mô tả Đài Loan như một bến cảng của những tên cướp biển, năm mà đất nước được liệt vào đầu danh sách trên.


Ở quy mô đối lập, Vietnam, Indonesia và Thái Lan đang đề ra những tiêu chuẩn bảo hộ và sự quản lý chặt chẽ hơn đối với các công ty dược phẩm đa quốc gia. Ví dụ như, một sự việc gần đây đã làm lu mờ sức hấp dẫn của thị trường Indonesia đối với các công ty dược phẩm nước ngoài khi mà Bộ Y Tế đưa ra luật bắt buộc các công ty dược phẩm phải có nhà máy sản xuất trong nước mới có thể đăng ký để bán thuốc ở Indonesia.

1-INDONESIA

Nền công nghiệp sản xuất dược phẩm nội địa của Indonesia khá phát triển và quốc gia này đã trở thành một nơi hấp dẫn với nhiều nhà sản xuất quốc tế. Nơi có chi phí nhân công và sản xuất rẻ. Tháng 5 năm 2009, chính phủ thông báo sự sáp nhập giữa PT Indofarma và PT Kimia, một khi việc sáp nhập được hiện thực hóa, sẽ cho phép họ kiểm soát tới 15% giá trị thị trường. Chủ tịch của PT Kimia, Sjamsul Ariffin đã phát biểu rằng những nghiên cứu về tính khả khả thi và tiến trình hợp pháp sẽ mất ít nhất 6 tới 9 tháng trước khi việc sáp nhập hoàn tất. Quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ thường bị xem nhẹ và thuốc giả là một vấn nạn chính. Indonesia bị liệt vào danh sách cần theo dõi ưu tiên của chính phủ Mỹ năm 2009.

2-MALAYSIA

Chính phủ Malaysia đặc biệt khuyến khích nền sản xuất dược phẩm nội địa, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ sinh học và sản xuất các thuốc hết hạn bảo hộ độc quyền. Một vài chính sách thúc đẩy đã được đề ra trong đó có việc miễn thuế cho các công ty công nghệ sinh học được công nhận tình trạng Bionexus. Sự phát triển công nghệ sinh học ở Malaysia đã bắt đầu lôi cuốn số lượng tăng dần các nhà sản xuất đa quốc gia mà hầu hết là sản xuất thuốc generic và các thuốc hết hạn bảo hộ khác, cả thuốc kê đơn và không kê đơn, tuy nhiên dược phẩm nhập khẩu từ các công ty đa quốc gia vẫn chiếm phần lớn thị phần, với hơn 70% tổng giá trị tiền thuốc. Một Thỏa Thuận Thương Mại Tự do (FTA) khả thi với Mỹ có thể giúp Malaysia có viễn cảnh hấp dẫn hơn với các công ty dược phẩm Mỹ.

3-PHILIPPINES

Những thay đổi được mang lại từ Dự Luật Thuốc Giá Rẻ gây tranh cãi sẽ tác động tới thị trường dược phẩm của Philipines ở một số mảng, trong đó có luật Sở Hữu Trí Tuệ, cơ chế kiểm soát cạnh tranh và giá thuốc. Thị trường được trông đợi sẽ biến động một cách đặc biệt trong ngắn hạn. Chính phủ Philipines đã bị chỉ trích trong quá khứ vì không hành động đủ để phát triển thuốc generics, gần đây đã khởi động lại nỗ lực này. Minh chứng là chính phủ đã khởi động Dự Án 100, hứa hẹn sẽ cung cấp thuốc generics rẻ cho hơn 100 bệnh viện công trên khắp đất nước. Nhập khẩu song song tăng lên và chính phủ khuyến cáo những người bán buôn, bán lẻ phải tập trung nhiều hơn vào thuốc generics, như là 1 phần trong kế hoạch của chính phủ để giảm giá của một loạt các thuốc thiết yếu.

4-SINGAPORE

Sự chững lại của nền kinh tế ở Singapore gióng lên hồi chuông cảnh báo đối với khu vực sản xuất, và không tránh khỏi sẽ dẫn tới kìm hãm tăng trưởng sản lượng của ngành dược ít nhất là trong ngắn hạn. Những động thái tích cực như tỷ suất thuế hợp tác thấp và luật bảo hộ sở hữu trí tuệ mạnh mẽ cho phép bảo vệ việc đầu tư vào công nghiệp sản xuất sinh phẩm y tế ( Dược phẩm và thiết bị y tế) nhưng những sự kiện kinh tế gần đây có thể ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển trong tương lai. Singapore hoạt động giống như một trung tâm thương mại then chốt kế nối ĐNA với thế giới phương Tây và là một nơi tạm nhập tái xuất chính của ngành dược phẩm. Đất nước xuất khẩu nhiều dược phẩm hơn bất kỳ một con hổ Châu Á nào khác nhờ khoảng cách thuận lợi, mặt dù phần lớn trong đó là hàng hóa tái xuất.

5-Hàn Quốc

Môi trường quản lý ngành dược của Hàn Quốc luôn là một thách thức đối với các công ty quốc tế. Những vấn đề điển hình từ bảo hộ thông tin yếu kém, đặc biệt ở một thị trường bị chi phối bởi một lượng lớn nhà sản xuất thuốc generic, cho tới việc thiếu minh bạch trong việc xem xét giá thuốc của nhà chức trách. Tháng 7 năm 2009, Hiệp Hội Các Nhà Sản Xuất Dược Phẩm Hàn Quốc (KPMA) và Hiệp Hội Nghiên Cứu Công Nghiệp Dược Phẩm Hàn Quốc ( KRPIA) đã tìm kiếm sự đồng thuận từ Bộ Y Tế, Ủy Ban Gia Đình và Phúc Lợi cho một hiệp ước thương mại công bằng có hiệu lực từ tháng 8 năm 2009 nhằm ngăn chặn hoạt động giảm giá trong ngành dược phẩm, bao gồm cả những khoản chiết khấu trong kinh doanh thuốc.

6-Đài Loan

Đài Loan có một hệ thống chăm sóc sức khỏe mạnh mẽ. Bảo hiểm sức khỏe toàn dân đảm bảo cho tất cả người dân được phát triển với chế độ chăm sóc tốt. Có thể nói rằng, giống như nhiều hệ thống phúc lợi xã hội khác, hệ thống chăm sóc sức khỏe của Đài Loan đang bị kìm hãm do giá cả leo thang và việc dân số già đi nhanh chóng đang tăng thêm gánh nặng cho hệ thống. Cục Bảo Hiểm Y Tế Quốc Gia (BNHI), nơi chi trả tiền thuốc men và dịch vụ y tế, phải hoạt động cầm chừng trong những năm gần đây, và đã dùng đến phương án cắt giảm giá tạm thời, như lẽ tự nhiên làm ảnh hưởng tới nền công nghiệp dược phẩm, đặc biệt là của Mỹ và một số nhà cung cấp châu Âu, những nhà cung cấp dược phẩm chính cho Đài Loan. Tháng 5 năm 2009, có thông tin rằng Tập Đoàn Tư Vấn Khoa Học và Công Nghệ của giám đốc điều hành Yuan ( nội các Đài Loan) tiết lộ một khoản đầu tư mạo hiểm tới 1.8 tỷ USD cho công nghệ sinh học, với mục tiêu tăng gấp đôi sản lượng ngành công nghệ sinh học của quốc gia lên 8.8 tỷ USD trong vòng 4 năm.

7-Thái Lan

Nền công nghiệp đang được khôi phục lại cả về xuất khẩu và nhập khẩu thể hiện sự phát triển ấn tượng trong những năm gần đây. Mối quan hệ giữa chính phủ với ngành công nghiệp dược quốc tế đang diễn tiến không dễ dàng, phần lớn là do luật bản quyền lỏng lẻo của đất nước và đối xử ưu đãi dành cho nhà sản xuất nội địa. Chính sách đăng ký cưỡng chế với các thuốc bảo hộ bản quyền của chính phủ cũng góp phần tăng thêm phiền phức cho vấn đề này. Nhà sản xuất dược phẩm nội địa lớn nhất là Công ty Dược Phẩm Nhà Nước (GPO) gần như độc quyền đối với khu vực bệnh viện công lập, những bệnh viện công lập bị buộc phải mua tới 80% thuốc cho bệnh viện từ GPO.

8-Việt Nam

Chính phủ Việt Nam đang tập trung phát triển năng lực sản xuất nội địa hiện tai chỉ có khả năng cung cấp 50% thuốc cho thị trường dược phẩm trong nước. Tuy nhiên, giá cả nguyên liệu thô đang tăng cũng là một nguy cơ do hiện trạng nhập siêu giao dịch  phụ thuộc quá nhiều vào đồng USD và tỉ lệ lạm phát mỗi năm khá cao. Báo cáo gần đây cho thấy 3 nhà phân phối quốc tế lớn – Zuellig Pharma, Mega Product và Diethelm (DKSH) – chi phối thị trường dược phẩm trong nước thông qua mạng lưới phức tạp cho phép họ kiểm soát được khối lượng hàng hóa dẫn tới kiểm soát giá của các thuốc được phân phối trong nước. Báo cáo của chính phủ đã lên án các nhà cung cấp nước ngoài và các công ty nhập khẩu nội địa về việc chấp nhận những sách lược bóc lột giá, sự tẩy chay, thỏa thuận độc quyền và tăng cường độc quyền để ngăn chặn những đối thủ cạnh tranh là các nhà cung cấp, nhà nhập khẩu mới trong hiện trạng thuốc Brandname và Generic tràn lan hiện nay.

CTV Bá Nghĩa-Theo Namud
Tags:

About author

Curabitur at est vel odio aliquam fermentum in vel tortor. Aliquam eget laoreet metus. Quisque auctor dolor fermentum nisi imperdiet vel placerat purus convallis.