Theo dữ liệu khảo sát từ Liên Hiệp Quốc, các chuyên gia cho biết đến ngày 31/10/2011. Thế giới sẽ đón nhận thành viên thứ 7 tỉ được sinh ra tại Ấn Độ.
Được thừa hưởng những hiểu biết và tiến bộ về Y tế vượt bậc : vaccine, thuốc chữa bệnh đặc trị, thuốc kháng sinh,vv… con đã cải thiện được điều kiện sống đối phó với các loại dịch bệnh và sức khỏe công cộng, tuổi thọ tăng lên, giảm đáng kể tỉ lệ tử vong do bệnh tật tại các nước phát triển lẫn đang phát triển.
“Thế giới có 1 tỉ người (năm 1800), sau đó lên 2 tỉ người ( năm 1925) và chỉ tích tắc trong vòng hơn nửa thập kỉ dân số bùng lên tới gần 7 tỉ người. Và theo dự đoán dựa trên tỉ lệ sinh/tử và một số yếu tố khác, vào năm 2050 con số sẽ tăng lên chóng mặt 9,3 tỉ người. 97% sự bùng nổ này đến từ các nước kém phát triển.” David Bloom nhà kinh tế học tại trường ĐH Harvard cho biết.
Quả bom dân số đã xảy ra từ thập niên 60s đến 70s và tương lai quả bom sẽ tiếp tục bùng nổ mặc cho sự kìm hãm từ các chính sách kiểm soát dân số của chính phủ mỗi Quốc gia (thực tế tỉ lệ tăng dân số có giảm nhờ vào các chính sách này tuy nhiên rất ít khoản 1-2%) . Bom dân số (population bomb) có xu hướng lan sang các quốc gia kém phát triển một mặt tại các khu vực phát triển ở Châu Âu, xã hội và chi phí nâng cao khiến con người có xu hướng không muốn sinh con để tận tưởng cảm giác tự do dẫn đến một đất nước già hóa.Chính phủ các nước này phải khuyến khích người dân sinh con để cân bằng lại . Ấn Độ và Trung Quốc là hai quốc gia có tỉ lệ dân số đông nhất hiện nay. Tuy nhiên chính sách 1 con gắt gao của Trung Quốc sẽ khiến Ấn Độ sớm vượt mặt TQ để trở thành quốc gia đông dân nhất thế giới vào năm 2050.
Trung Quốc và những nỗi lo
Một tờ báo của TQ gần đây cho biết, chính phủ TQ đang tăng cường chính sách tập trung chăm lo cho sức khỏe của người dân,cải cách y tế được đưa lên chủ trương hàng đầu bằng việc tập trung khắc phục vào 3 yếu tố bất cập hiện nay:
1-Người dân phải tự chi trả cho chi phí chăm sóc sức khỏe.Có sự lệch pha nghiêm trọng trong việc đầu tư các trung tâm chăm sóc sức khỏe tại thành thị và nông thôn.
2-Nhân lực đào tạo thiếu và không đáp ứng tốt nhu cầu điều trị.
3- Thiếu hụt số lượng lớn bệnh nhân được chăm sóc điều trị kĩ thuật cao.
Gánh 20% dân số trên toàn thế giới, tương đương 1,3 tỉ người là lí do khiến người khổng lồ này không thể kiểm soát được tình hình hiện nay. Chính sách 1 con của TQ từ năm 2006 đến nay ngoài việc giúp giảm bớt dc gánh nặng 300 triệu dân số nhưng lại gây ra hệ quả nghiêm trọng khác: mất cân bằng nghiêm trọng giữa tỉ lệ trẻ/già, nam/nữ. Càng ngày càng ít người trẻ, số lượng người già sẽ xuất hiện càng nhiều kèm theo bệnh tật sẽ trở thành gánh nặng trong ngân sách chi trả cho Y Tế, một trong những hiểm họa báo trước tại đất nước đang phát triển quá nóng nhưng thiếu ổn định này.
Mặc cho mức tăng trưởng GDP của TQ tăng trong suốt 25 năm qua nhưng việc phân bố cấu trúc lại bị lệch pha lớn giữa thành thị và nông thôn, dẫn đến tình trạng thiếu hụt trầm trọng thiết bị cơ sở y tế và nhân lực tại các khu vực này. Điều này dễ dẫn đến hệ quả bất ổn xã hội và phân biệt đối xử mạnh mẽ.
IBM (International Bussiness Monitor) thống kê cho thấy, đến năm 2020, TQ sẽ có hơn 11,8% dân số là người già trên 65 tuổi, chính vì thế TQ bắt buộc phải tiến hành cải cách sớm Y Tế để đối phó với nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho hiện tại và tương lai, đặc biệt đầu tư vào các loại thuốc điều trị bệnh mạn tính. Đô thị hóa với tốc độ chóng mặt khiến TQ sẽ có khoảng 50-60% diện tích là thành thị, dân cư tập trung đông tại đây sẽ gây nên trình trạng ô nhiễm và dễ mắc các loại bệnh thông thường. Do đó TQ phải có các biện pháp hỗ trợ để giúp ngành Y Tế phát triển các dịch vụ cao để phục vụ cho người dân tại đây khi họ bắt đầu biết quan tâm đến sức khỏe của mình.
Chính phủ TQ bắt đầu đổ tiền nhiều hơn để chăm lo cho Y Tế, Y Tế công cộng cũng được chú trọng để chỉ dẫn cho người dân cách thức tự bảo vệ mình. Tăng cường đầu tư đào tạo nhân lực Y Tế, thu hút chất xám từ nước ngoài về làm việc, trả lương cao hơn và có chính sách ưu đãi cho nhân lựu về làm việc ở nông thôn, tăng cường xây dựng cơ sở Y Tế phân theo tuyến và mô hình bệnh Viện Quốc Tế sử dụng công nghệ cao như hồ sơ điện tử, toa thuốc điện tử để theo dõi tình trạng bệnh để phân loại bệnh và đưa đến khu vực hợp lý cho từng bệnh viện chữa trị tránh trường hợp quá tải và tập trung vào một chỗ.
Sẽ có 3 lớp dịch vụ khám chữa bệnh: Bệnh nhẹ được xem xét và chữa trị tại Các trung tâm Y Tế Công Cộng. Bệnh đánh giá ở tầm trung sẽ được điều trị tại Bệnh Viện khu Vực và nếu thành Bệnh nặng sẽ đưa lên tới Bệnh viện tuyến cuối cùng để chữa trị nhằm giảm bớt chi phí phát sinh không cần thiết cho bệnh nhân cũng như áp lực cho nhân viên Y Tế.
Tuy nhiên, để đạt được một mô hình lý tưởng như vậy, IBM cảnh báo, TQ phải liên tục đào tạo cập nhật kiến thức cũng như tay nghề cho nhân lực Y Tế thật chính xác. Ban Giám Đốc quản lí Bệnh Viện phải xử lí hồ sơ cũng như chi phí minh bạch, nỗ lực quản trị tốt và chuyên nghiệp kèm ban giám sát thanh tra liên tục. Như thế mới giúp tăng cao khả năng trị liệu và giảm bớt chi phí điều trị cho bệnh nhân đúng theo yêu cầu đã đề ra.
Tập trung mũi nhọn ngành Dược để làm chỗ dựa cho Y Tế
Mặt khác,cung ứng và phát triển dược phẩm cũng là yếu tố được chính phủ TQ quan tâm theo dõi gắt gao, hiện đã có hơn 5000 nhà máy sản xuất Dược phẩm và khá nhiều công ty phân phối được xây dựng rải rác khắp nơi. Việc thu hút các đầu tư vào thị trường TQ này cũng là một lợi thế của các công ty Dược đa quốc gia dưới hình thức liên doanh để thay đổi thị trường chính của họ vốn dĩ tập trung vào các thị trường Mỹ và Châu Âu giờ đây chuyển sang TQ vì các vấn đề thuốc hết hạn bảo hộ bản quyền(patent-off) và sự xâm lấn của thuốc GENERIC, hàng loạt các công ty Dược đa quốc gia đổ xô vào thị trường đông dân nhất thế giới này vì những lợi điểm ( nhưng cũng đầy rủi ro song song) để giảm tối đa chi phí sản xuất và tăng giá trị lợi nhuận:
1- Lợi:Xây dựng nhà máy sản xuất tại chính quốc gia với lực lượng nhân công giá rẻ đồng thời cung ứng kịp thời theo nhu cầu sử dụng thuốc tại chính thị trường đó tạo lợi thế cạnh tranh về giá (một trong những xu hướng quan trọng và phát triển lâu dài cho ngành Dược Đa quốc gia trong giai đoạn khủng hoảng thuốc brandname).
Hại: TQ mở cửa cho các công ty Dược đa quốc nhập các thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến nhất của mình vào thị trường để mau chóng học hỏi cách sản xuất và tiếp thu phát triển công nghệ mang về đầu quân cho các công ty Dược chuyên sản xuất thuốc GENERIC trong nước của mình.
2- Lợi: Thành lập các trung tâm nghiên cứu lâm sàng tại TQ (theo yêu cầu của chính phủ),dựa theo số liệu lâm sàng để tìm ra loại thuốc phù hợp với đặc tính khu vực. Lợi thế về nhân quyền chưa cao nên việc thử nghiệm thuốc trên người được tiến hành không cần phải theo dõi chặt chẽ về tính mạng và nguy cơ của người dân tham gia thử nghiệm sau này. (Đa số xảy ra ở các khu vực nước mới nổi như Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc và một số nước nghèo khác)
Hại: Những dữ liệu thuốc mới mang tính đặc trưng của người Châu Á khi đem ra giới thiệu về nghiên cứu tại FDA thường bị các chuyên gia FDA giẫy đành đạch từ chối vì không mang tính thuyết phục cao khi chưa thấy dữ liệu thử nghiệm trên người ở khu vực Châu Âu và Châu Mỹ.
Như Ấn Độ rất khôn ngoan khi biết tận dụng sức mạnh của Toàn Cầu Hóa từ nhiều năm trước để biến nó thành vũ khí lợi hại của mình cung cấp lại cho lợi ích kinh tế quốc gia. Ngành Dược của Ấn hiện tại phát triển rất mạnh trong việc sản xuất các sản phẩm GENERIC và ngành công nghiệp Hóa Dược và xuất khẩu ra hơn 200 quốc gia trên thế giới (trong đó có cả Việt Nam).
Lợi hại song song như vậy, tuy nhiên các công ty Dược đa quốc gia vẫn phải chấp nhận thực tế phũ phàng khi kinh doanh.Tuy nhiên các công ty Dược đa quốc gia vẫn có cách để đánh phủ đầu các công ty Dược sản xuất thuốc Generic, bằng hình thức liên doanh, hoặc M&A các công ty này trở thành công ty con của mình, tránh được tác hại cạnh tranh sau này của các công ty Dược sản xuất Generic.
Theo Namud
